Một vài nét lịch sử của xã Thanh Thùy và làng Rùa

A. Lịch sử của xã Thanh Thùy và làng Rùa

Từ một vùng chiêm trũng, quá trình hình thành các làng ở Thanh Thuỳ phải trải qua một quá trình lâu dài hàng trăm năm, gắn liền với công cuộc khẩn hoang, mở rộng địa bàn canh tác và cư trú. Cho tới nay chưa có tài liệu thành văn nào khẳng định chính xác thời điểm con người xuất hiện trên địa bàn xã Thanh Thuỳ, nhưng căn cứ vào gia phả các dòng họ và truyền thuyết, thần phả của các làng  đã phần nào cho thấy được  diện mạo cộng đồng dân cư nơi đây vào các thời đại trước. Ngọc phả của làng Rùa Hạ có viết vào đời Hùng Vương thứ 6, cư dân đã đến đây lập làng  với tên gọi cổ là Thuỳ Dụ Hạ, sau đổi thành Thuỳ Dụ Hạ Trang, thuộc vùng đất của huyện Thanh Đàm xưa. Đến thời Bắc thuộc, theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, huyện Thanh Đàm xưa là châu Long Đàm thuộc phủ Giao Châu. Ngọc phả đình làng Rùa Thượng có viết: Vào đời Hùng Vương thứ 6, ở xã Thanh Thuỳ ngày nay có gia đình họ Lý, người chồng chết sớm để lại cho người một người vợ goá một cô con gái tên là Lý Chiêu. Năm 18 tuổi, Lý Chiêu nổi tiếng nết na,nhan sắc hơn người, nhiều người đến hỏi nhưng Bà không nhận lời. Một hôm, Bà gặp một du khách làm nghề bốc thuốc tên là Trần Liên quê ở làng Nam Sơn, Xương Giang, phủ Thừa Thiên thuộc nước Văn Lang. Nhờ sự giúp đỡ của dân làng , bà Lý Chiêu cùng ông nên nghĩa vợ chồng. Sau sinh được 3 người con, 2 trai 1 gái, cả 3 đều học hành tài giỏi. Khi ông bà qua đời, 3 người con tiến về 3 hướng, mở mang đất đai xã Thuỳ Dụ. Người anh cả ở xóm Thượng, người em ở xóm Hạ, còn cô em út ở Trại Am. Ba anh em họ Trần ăn ở đức độ, làm điều tâm phúc cho dân trong vùng như chống úng, chống hạn, đánh đuổi giặc cướp. Cô em út chẳng may mất sớm, dân làng lập đền thờ tại Trại Am, còn hai người anh được Hùng Vương mời về triều làm tướng thống lĩnh quân mã lập nhiều chiến công. Mặc dù đây chỉ là những truyền thuyết được lưu truyền lại trong dân gian, nhưng gạt bỏ những yếu tố huyền thoại, cùng với những di chỉ khảo cổ ở các làng xã xung quanh có niên đại cách đây  trên 2000 năm giúp chúng ta có thể nhận định về khả năng con người đã đến đây tụ cư, sinh sống ở các xóm làng Thanh Thuỳ từ thời Hùng Vương dựng nước, thuộc giai đoạn muộn của văn hoá Đông Sơn. Qua truyền thuyết ấy cũng nói lên quan hệ thân tộc giữa các xóm trong một làng và quan hệ láng giềng hợp tác, đoàn kết giữa các làng trong xã đã xuất hiện ngay từ buổi đầu dựng làng, khởi nghiệp.

          Về tới Thanh Thuỳ 1 điểm cực đông của huyện Thanh Oai Thành Phố Hà Nội. Dọc theo đường 71 xưa kia và nay là đường 427 .Các bạn có thể đến thăm thôn Dư Dụ - xã Thanh Thuỳ - Huyện Thanh Oai - Thành Phố Hà Nội .Một làng nghề điêu khắc truyền thống , một làng quê văn hiến có truyền thống tôn sư trọng đạo ,chú trọng viều đầu tư khuyến khích con cái học tập . Làng Dư Dụ - xã Thanh Thuỳ còn có 1 di tích lịch sử được bộ văn hoá công nhận năm Tân Mùi (1991 ) .Đó là đình làng Dư Dụ .

 

 

Cổng đình làng Dư Dụ - di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hàng

 

Di tích đình làng Dư Dụ được sử sách ghi lại trên Thần Phả Đình làng Dư Dụ do đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính Phụng soạn vào năm Hồng Phúc (1572 ) ,sau này lễ bộ thương thư Nguyễn Hiền sao lại kể về công tích của vị thần được thờ có tên chữ là Quý Minh Đại vương .Thần phả thứ 2 nói về công tích của 3 vị Đại vương đó là Thánh Tản Viên Sơn,Cáo Sơn Đại Vương và Quý Minh Đại vương .

  Theo quyển thượng văn bằng chữ Hán được cất giữ trong hậu cung đình làng có ghi lại sự tích về Quý Minh Đại Vương:

   - Quý Minh Đại Vương sống ở thời đại Hùng Vương.Đây là 1 thần nhân quê Thanh Xuyên họ Nguyễn tên Hùng là Thượng Lang sinh ngày 10/08 khi sinh ra thì đã có điểm lạ là hương bay thơm ngát khắp cả bầu trời,vẻ bề ngoài rất khác thường văn võ song toàn Hùng tài đại lược đã giúp nhà vua bảo vệ được đất nước,trừ được giặc,đánh được giặc đi và có công lao rất lớn giúp vận nước được dài lâu và được nhà vua sắc phong là Đại Vương Quý Minh ngàn năm còn được ghi danh trong sử sách và có công lao to lớn với đất nước.

          Còn Thánh Tản Viên Sơn .Cũng theo sách thượng văn bằng chữ Hán được cất giữ trong hậu cung đình làng Dư Dụ .

          Vua Hùng sinh được 1 người con gái tên là Mỵ Nương. Mỵ Nương dung mạo đoan trang, nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh cùng đến cầu hôn.Vua Hùng muốn xem ai giỏi hơn liền nghĩ ra kế để 2 người thi pháp thuật với nhau.Đại Vương đem gậy thần và Sách ước: Thuỷ tinh hô phong hoàn vũ. Nhà vua nói rằng cả 2 người đều thần thông mà trẫm chỉ có 1 người con gái thì biết gả cho ai bây giờ? Nhà vua bèn nghĩ ra 1 cách: Nếu như ai mang được lễ vật Voi chín ngà, Gà chín cựa,Ngựa chín Hồng mao đến trước thì sẽ gả con gái cho. Sáng ngày hôm sau Sơn Tinh mang lễ vật đến trước Vua Hùng liền gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh. Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ liền tức giận cho nước dâng lên để đánh Sơn Tinh, nhưng Thuỷ Tinh cứ dâng nước lên bao nhiêu thì Sơn tinh lại cho hô cho núi lên cao bấy nhiêu.Thuỷ Tinh không thắng được Sơn Tinh đành chấp nhận rút lui .Sau khi Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh Đại vương đã du ngoạn ở vùng Tiểu hoành Giang ( Tức Sông Tiểu hoành ) nay là sông Nhuệ xem đánh cá đến phủ Thường Tín thấy ở làng Dư Dụ có mảnh đất có linh khí rất đẹp và kỳ lạ ngồi hướng cấn,vị ở hướng khôn ,trước mặt có rồng vàng làm án trầu về, bên trái có Thanh Long bảo vệ,bên phải có Bạch Hổ ôm vòng. Đất này thì nhiều văn nhân tài tử, giàu có anh hào.Làng thiết lập Đình để nghênh đón Đại Vương ngự ở đó, từ đó Làng thờ cúng và nhiều lần thấy hiển ứng cho nên hàng năm Làng hương lửa ngày ngày thì sáng láng Đại Vương đã bảo vệ đất nước và phù hộ cho nhân dân muôn đời được trường tồn ,làm ăn thịnh vượng và sau này Đại Vương được nhà vua sắc phong là Thành Hoàng của Làng. Theo truyền thuyết ghi lại Đại Vương hoá nhật vào ngày 10/3 âm lịch. Cũng từ đó nhân dân thôn Dư Dụ mổ trâu làm lễ tưởng nhớ đến Đại Vương trong 5 ngày.

     Theo Ngọc phả và Thần Phả của làng nhiều đời vua sau này còn sắc phong Đại Vương là Thành Hoàng của làng vào các năm :

- Đời vua Cảnh Hưng thứ 44 ( 1789 ) 2 lần sắc phong

- Đời vua Quang Trung năm thứ 5 ( 1792 )

- Đời vua Cảnh Thịnh năm thứ 4 ( 1796 )

- Đời vua Thiệu Trị năm thứ 6 ( 1846 ) 2 sắc phong

- Đời vua Tự Đức năm thứ 3 ( 1850 )

- Đời vua Tự Đức năm thứ 33 (1880)

- Đời vua Đồng Khánh năm thứ 2 ( 1887 )

- Đời vua Duy Tân năm thứ 3

- Đời vua khải Định năm thứ 9 ( 1924 )

          Còn về Đình làng : Ngày 15 tháng 03 năm thứ 3 niên hiệu Bảo Đại tức ngày 15 tháng 4 năm 1928 Dương lịch.Các chức sắc, lão làng họp ở đình làng để ghi chép việc làm Đình cho đời sau biết.Đình làng đã có từ lâu nhưng tài liệu được ghi chép lại về Đình làng có từ năm Ất Hợi (1695) sau đó trùng tu vào năm Kỷ sửu (1709) đến năm thứ 22 đời vua Cảnh Hưng tức năm Tân Tỵ (1761) thì trùng tu lại. Năm Ất Sửu ( 1925 ) vào triều vua Khải Định thì làm Đình mới . Người cất nóc Đình là tiến sỹ tam giác tổng đốc Hải Dương Từ Đạm ở làng Khê Hồi Thường Tín .Ông cũng là người viết chữ ở câu đầu và thượng nương ở Đình

          Từ trong lao động sản xuất và chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương , nhân dân Thanh Thuỳ đã dần hun đúc nên nhiều giá trị truyền thống quý báu,trở thành hành trang không thể thiếu trong quá trình  phát triển của mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm, đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của vùng đất Thanh Oai địa linh nhân kiệt và của dân tộc trong mỗi thời kỳ lịch sử. Truyền thống này vẫn còn in đậm trong các lễ hội, trong tục thờ thành hoàng làng và được phản ánh khá rõ nết trong các thần phả, ngọc phả. Việc tôn thờ các nhân vật có công với nước ở Thanh Thuỳ không chỉ thuần tuý mang ý nghĩa tín ngưỡng, tâm linh, mà còn ghi nhớ công ơn những người đã có công dựng nước và giữ nước, bảo vệ quê hương, nhắc nhở các thế hệ con cháu cần biết phát huy truyền thống tốt đẹp trong mọi thời đại.

B. ĐỊA LÝ XÃ THANH THÙY VÀ LÀNG RÙA

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

          Xã Thanh Thuỳ nằm ở cực Đông của huyện, phía Bắc giáp xã Khánh Hà huyện Thường Tín, phía Đông giáp xã Hiền Giang huyện Thường Tín, phía Tây giáp xã Tam Hưng huyện Thanh Oai, phía Nam giáp xã Thanh Văn huyện Thanh Oai và xã Tiền Phong huyện Thường Tín.

Xã Thanh Thuỳ hiện nay gồm 6 thôn: Từ Am, Rùa Thượng, Rùa Hạ, Gia Vĩnh, Dụ Tiền và Dư Dụ. Diện tích và dân số Thanh Thuỳ  thuộc loại trung bình của huyện . Tổng diện tích tự nhiên  toàn xã là 535 ha, trong đó diện tích trồng lúa là 323 ha, còn lại là đất thổ cư, đất mương, ao, đầm hồ, sông cụt...Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, dân số Thanh Thuỳ có khoảng 1500 người, đến năm 2013 đã phát triển lên 8021 người với  2270 hộ.

Vị trí địa lý của Thanh Thuỳ chứa đựng cả yếu tố thuận và không thuận đối với sự phát triển, Thanh Thuỳ là địa đầu phía Đông của huyện Thanh oai, giáp với huyện Thường Tín, song lại nằm ở khu vực trung tâm của huyện Thanh Oai, cách Thị trấn Kim Bài- trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện khoảng 5 km và cách thị trấn huyện Thường Tín cũng khoảng trên 5km. Xét trong không gian rộng hơn, Thanh Thuỳ cách thị xã Hà Đông khoảng 15km, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 25km.

Về giao thông đường bộ, ngoài các con đường liên xã, liên thôn, Thanh Thuỳ còn án ngữ giữa hai con đường quan trọng là Quốc lộ 1A và Tỉnh lộ 21B. Đường Tỉnh lộ 427 nối Bình Đà với Thường Tín chạy qua trung tâm xã, là huyết mạch giao thông quan trọng của Thanh Thuỳ. Dòng Nhuệ Giang, từ Liên Mạc chảy qua thị xã Hà Đông, Thanh Oai, Phú Xuyên, Ứng Hoà và xuôi xuống tỉnh Hà Nam không chỉ là tuyến giao thông đường thuỷ mà còn tạo thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống tưới – tiêu cho nông nghiệp, đồng thời cung cấp nguồn thuỷ hải sản khá dồi dào. Với vị trí địa lý này, Thanh Thuỳ có điều kiện thuận lợi khi giao lưu văn hoá và trao đổi kinh tế không chỉ với các xã cùng huyện, mà cả với xã của huyện bạn và với các địa phương trong cả nước, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, biến các tiềm năng thành hiện thực. Thuận lợi này càng được phát huy trong giai đoạn hiện nay khi Thanh Thuỳ là một trong những khu vực có các làng nghề truyền thống rất phát triển với 1747/1952 hộ  làm các ngành nghề điêu khắc, kim khí và một số nghề thủ công khác. Về quân sự, vị trí địa lý này kết hợp với yếu tố địa hình phần lớn là vùng đồng trũng, không tiện lợi cơ động, nên trong điều kiện có chiến tranh, Thanh Thuỳ có những thuận lợi cho việc xây dựng khu căn cứ kháng chiến, có tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ cục diện của huyện Thanh Oai. Đối với lực lượng cách mạng, Thanh Thuỳ là tấm áo giáp phía Đông huyện, mất Thanh Thuỳ sẽ đe doạ đến phong trào cách mạng ở các xã phía trong; giữ được Thanh Thuỳ là có điều kiện để xây dựng khu căn cứ trong lòng địch. Thanh Thuỳ còn là vị trí xuất phát tiến công của lực lượng cách mạng  đến các trung tâm chính trị của huyện Thanh Oai, Thường Tín và các trục  giao thông quan trọng. Đối với kẻ địch, chiếm được Thanh Thuỳ không chỉ khống chế  các địa bàn xung quanh của huyện Thanh oai, mà còn kiểm soát  được cả một vùng rộng lớn của huyện Thường Tín, bảo vệ các tuyến giao thông  quan trọng trên quốc lộ 1A, tỉnh lộ 21B. và đường liên huyện 427. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Pháp đã cho thấy, Thanh Thuỳ là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Tổ chức Đảng và nhân dân trong xã phải chịu nhiều hy sinh, mất mát trong cuộc đấu tranh bảo tồn lực lượng kháng chiến, chống địch chiếm đóng trong những năm chiến tranh.

II.PHẠM VI LÃNH THỔ VÀ SỰ PHÂN CHIA  HÀNH CHÍNH.

Địa giới hành chính và tên gọi của xã có nhiều thay đổi. Dưới thời Pháp thuộc, hầu hết các thôn được tổ chức theo hình thức “ nhất xã, nhất thôn”, riêng Rùa Thượng và Rùa Hạ là “ nhất xã nhị thôn’. Các thôn Rùa Thượng, Dư Dụ, Từ Am và Gia Vĩnh thuộc tổng Hà Liễu; thôn Dụ Tiện thuộc tổng Động Cứu- huyện Thanh Trì- phủ Thường Tín. Sau khi giành được chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945, mỗi thôn hình thành một bộ máy chính quyền cách mạng lâm thời cấp cơ sở. Tháng 4 năm 1946, theo chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tỉnh Hà Đông chỉ đạo tiến hành hợp nhất  các xã nhỏ thành xã lớn cho phù hợp với hoàn cảnh  cách mạng lúc bấy giờ. Thôn Dụ Tiền và Dư Dụ cùng với thôn Quan Nhân ( Thanh Văn) hợp thành xã Dụ Nhân; thôn Từ Am, Gia Vĩnh, Rùa Thương và Rùa Hạ thành xã Thuỳ Dụ. Đến tháng 2 năm 1948, căn cứ vào thông tư 73TT-LB của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Bắc Bộ về việc tiếp tục hợp nhất xã nhỏ thành xã lớn và Chỉ thị của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Huyện, hai xã Dụ Nhân và Văn Hoá ( gồm các thôn Bạch Nao,Úc Lý và Tam Đa thuộc xã Thanh Văn hiện nay) hợp nhất làm một lấy tên là xã Văn Nhân. Đến tháng 5 năm 1949, Thuỳ Dụ lại hợp nhất với Văn Nhân thành xã Văn Thuỳ. Sau khi miền Bắc được giải phóng, năm 1956, Văn Thuỳ tách ra làm hai xã: Thanh Thuỳ và Thanh Văn. Tên gọi và địa giới hành chính của xã Thanh Thuỳ tồn tại ổn định từ đó đến ngày nay.

III.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ THANH THÙY VÀ LÀNG RÙA

Điều kiện tự nhiên của Thanh Thuỳ đan xen cả thuận lợi lẫn khó khăn đối với phát triển kinh tế. Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 535 ha, trong đó diện tích canh tác là 323 hà. Mặt thuận lợi là đồng đất Thanh Thuỳ có cả đồng vàn và đồng chiêm trũng, có khả năng phát triển một cơ cấu kinh tế  nông nghiệp đa dạng, không chỉ có trồng trọt, mà cả chăn nuôi, nhất là nuôi vịt và thả cá. Mặt khó khăn  cũng dễ thấy là do phần lớn ruộng trũng nên không thuận trong canh tác, phải mất nhiều công sức để cải tạo đồng ruộng, xây dựng hệ thống thuỷ lợi chống úng lụt. Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện nay, với sự năng động của cơ chế thị trường, nếu có tư duy sáng tạo, xác định đúng lợi thế so sánh, Thanh Thuỳ có khả năng phát triển một nền nông nghiệp bền vững, các ngành nghề thủ công đa dạng với cơ câu kinh tế hợp lý.

IV.DÂN CƯ, KINH TẾ XÃ THANH THÙY

  1. Dân cư

          Xã Thanh Thuỳ có mật độ dân số đông tổng toàn xã có 8021 người, được phân bố ở 6 thôn.

          Dân xã Thanh Thuỳ sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp và nghề truyền thống là làm trống, điêu khắc, kim khí. Trong những năm qua Thanh Thuỳ đác có bước phát triển vượt bậc trên lĩnh vực kinh tế như ngày trước làm hàng hoá theo cách thủ công thì đến nay đã phát triển công nghiệp hóa hiện đại hoá, có nhiều doanh nghiệp, công ty tư nhân với máy móc hiện đại. Đời sống của nhân dân trong xã được nâng lên rõ rệt.

 

 

Gia công cơ khí đột dập 

 

 

Nghề làng trống thôn gia vĩnh

 

2.Kinh tế

          Xã Thanh Thuỳ đã phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây  trồng. Tăng cường phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật đến hộ nông dân để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về chất lượng sản phẩm của thị trường.

Đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm, đặc biệt tiếp thu nhiều kênh thông tin để tiếp cận thị trường, kể cả thị trường xuất khẩu. Phấn đấu sản xuất  tiểu thủ công nghiệp đến năm 2015 đạt 65% tổng giá trị thu nhập. Khuyến khích các hộ thành lập tổ hợp hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn để mở rộng quy mô sản xuất, thu hút nhiều lao động.

          Tốc độ  tăng trưởng kinh tế đạt 14% so với cùng kỳ, đến năm 2013 đạt 131.470 triệu đồng, thu nhập bình quân đầu người 16.855 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế được dịch chuyển theo hướng tích cực với nông nghiệp chiếm 15%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 63%, dịch vụ chiếm 22%. Đời sống vật chất, mức hưởng thụ của nhân dân được nâng lên rõ rệt với tỉ lệ hộ giàu đạt 50%, khá giàu đạt 49,4, giảm hộ nghèo xuống còn 0.6%. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đưa tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống 0.73%, đẩy lùi các tệ nạn trong nông thôn.

          Như vậy, nền kinh tế Thanh Thuỳ có bước tăng trưởng ổn định và khá toàn diện. Đặc biệt, cơ cấu kinh tế  đã có sự dịch chuyển rất căn bản theo hướng tích cực. Nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng cả về sản lượng  và giá trị  do sử dụng các giống lúa đặc sản và cao sản trong trồng trọt; chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản được phát triển cả về quy mô lẫn nâng cao chất lượng.

          Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.Sản xuất tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển mạnh cả về chủng loại mẫu mã, chất lượng và giá cả. Toàn xã đã có trên 90% số hộ làm nghề. Thị trường giao dịch hàng hoá  và mua bán nguyên vật liệu được mở rộng, nguồn vay vốn cho phát triển từ các ngân hàng nhà nước, quỹ tín dụng ngày càng thuận lợi tạo điều kiện cho các hộ đầu tư  nhiều loại máy móc hiện đại, mở rộng phát triển sản xuất. Quan hệ hợp tác, trao đổi thông tin, phối hợp kinh doanh giữa các hộ được tăng cường.

Viết bình luận